Hatex.vn không bán sản phẩm trực tiếp. Nếu bạn muốn mua sản phẩm trên trang web của chúng tôi, vui lòng tham khảo thông tin của các nhà cung cấp và liên hệ với họ theo các thông tin được cung cấp.
Đề xuất nhiều giải pháp thúc đẩy Việt Nam làm chủ công nghệ và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
03/07/2026
14 Lượt xem
Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết một năm rưỡi triển khai Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia diễn ra ngày 1/7 tại Hà Nội, nhiều chuyên gia, nhà khoa học và đại diện doanh nghiệp đã đưa ra các kiến nghị nhằm thúc đẩy năng lực tự chủ công nghệ, rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Các ý kiến đều thống nhất rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng làm chủ những công nghệ phức tạp như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn hay dữ liệu lớn nếu có cơ chế đủ thông thoáng, đầu tư đồng bộ về hạ tầng và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả.
Xây dựng hệ sinh thái đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường
Theo GS.TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, một trong những nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo khép kín ngay trong các cơ sở giáo dục đại học nhằm rút ngắn quá trình chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất.
Đại học Bách khoa Hà Nội đang tái cấu trúc theo mô hình ba tầng. Trong đó, tầng nền tảng tập trung phát triển tri thức và công nghệ nguồn thông qua các viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm với nhiều lĩnh vực ưu tiên như trí tuệ nhân tạo, an toàn không gian mạng, chip bán dẫn, Internet vạn vật (IoT), robot, năng lượng tái tạo, vật liệu tiên tiến và công nghệ sinh học.
Ở tầng trung gian, nhà trường phát triển các phòng thí nghiệm hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, nơi các nhà nghiên cứu cùng kỹ sư doanh nghiệp phối hợp giải quyết những bài toán thực tiễn, chia sẻ cơ sở vật chất và thúc đẩy hoạt động chế tạo thử.
Tầng cuối cùng hướng đến thương mại hóa các kết quả nghiên cứu thông qua các mô hình đầu tư và hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ. Theo ông Tuấn, việc hình thành các tổ chức chuyên trách quản lý tài sản trí tuệ và đầu tư cho startup công nghệ giúp hoàn thiện chuỗi giá trị từ nghiên cứu đến thị trường.
Hoàn thiện cơ chế để tháo gỡ điểm nghẽn trong thương mại hóa công nghệ
Bên cạnh việc xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam cần sớm hoàn thiện các cơ chế pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đổi mới sáng tạo.
Các chuyên gia đề xuất Nhà nước tiếp tục đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm và trung tâm nghiên cứu hiện đại theo mô hình hợp tác giữa Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp. Đồng thời, cần ban hành hướng dẫn rõ ràng về định giá tài sản trí tuệ, cơ chế thành lập doanh nghiệp khởi nguồn từ các cơ sở giáo dục đại học cũng như quy định về phân chia lợi ích khi thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.
Ngoài ra, việc đẩy nhanh quá trình vận hành các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và các quỹ đổi mới sáng tạo tại các trường đại học, viện nghiên cứu cũng được xem là giải pháp quan trọng nhằm tạo nguồn lực tài chính bền vững cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Coi AI và dữ liệu lớn là hạ tầng chiến lược của nền kinh tế
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Lưu Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo của VinUniversity, nhận định AI và dữ liệu lớn cần được xem là hạ tầng nền tảng của nền kinh tế số, tương tự như điện, giao thông hay viễn thông.
Theo ông, để tạo bước đột phá trong các ngành công nghiệp chiến lược, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trước hết là xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia. Dữ liệu cần được coi là tài nguyên chiến lược với cơ chế chia sẻ an toàn giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các viện nghiên cứu nhằm hình thành các kho dữ liệu mở phục vụ phát triển các mô hình AI mang bản sắc Việt Nam.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần đầu tư phát triển các mô hình AI nền tảng "Make in Vietnam", giảm sự phụ thuộc vào các nền tảng nước ngoài, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như xử lý ngôn ngữ tiếng Việt, robot thông minh, sản xuất công nghiệp và các hệ thống AI chuyên ngành.
Một nội dung quan trọng khác là xây dựng hạ tầng tính toán AI quy mô quốc gia theo mô hình dùng chung. Việc đầu tư các trung tâm tính toán hiệu năng cao sẽ tạo điều kiện để các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực tính toán với chi phí hợp lý, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển các mô hình AI có quy mô lớn.
Phát triển nguồn nhân lực và mở rộng thị trường cho AI Việt Nam
Theo các chuyên gia, sự cạnh tranh trong lĩnh vực AI hiện nay thực chất là cuộc cạnh tranh về nguồn nhân lực chất lượng cao.
Do đó, Việt Nam cần xây dựng chiến lược dài hạn nhằm đào tạo đội ngũ chuyên gia AI trình độ cao, đồng thời có chính sách thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia nghiên cứu, giảng dạy và khởi nghiệp tại Việt Nam.
Song song với đó, cần hình thành các doanh nghiệp AI có khả năng cạnh tranh ở quy mô khu vực và quốc tế. Các doanh nghiệp cần được hỗ trợ trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, tiếp cận nguồn vốn đầu tư, mở rộng thị trường và phát triển các sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Nhiều ý kiến cũng đề xuất khu vực công nên đóng vai trò là khách hàng đầu tiên đối với các sản phẩm AI "Make in Vietnam", qua đó tạo thị trường ban đầu để doanh nghiệp hoàn thiện sản phẩm trước khi mở rộng ra quốc tế.
Tự chủ công nghệ là nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Phát biểu tại nhiều diễn đàn gần đây, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ khẳng định mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam vào nhóm ba quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam đang hướng tới việc từng bước làm chủ các công nghệ lõi, phát triển các mô hình AI nền tảng dựa trên dữ liệu trong nước và xây dựng năng lực tự chủ về công nghệ thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào các giải pháp nước ngoài.
Các chuyên gia nhận định, việc đầu tư đồng bộ vào hạ tầng nghiên cứu, dữ liệu, năng lực tính toán, nguồn nhân lực và cơ chế chính sách sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiện đại, thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và từng bước khẳng định vị thế trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, việc làm chủ công nghệ không chỉ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn tạo nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế số, kinh tế tri thức và bảo đảm an ninh công nghệ quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.