Nguồn gốc
– Giống lúa Nếp 68 là giống lúa thuần do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm nghiên cứu, chọn tạo bằng phương pháp phả hệ từ tổ hợp lai hữu tính Nếp 97/Nếp 415//BM9603. Giống lúa nếp N68 được công nhận lưu hành theo quyết định 168/QĐ-TTTV-QLGCT ngày 08/12/2025 của Cục trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Một số đặc tính nông học chính
– TGST từ 125-140 ngày (vụ Xuân) và 105-114 ngày (vụ Mùa)
– Chiều cao cây: 120,4 – 137,0 cm, sinh trưởng nhanh, mạnh, đẻ nhánh gọn và tập trung, bộ lá xanh đậm, tàn lá muộn, bông to, chiều dài bông đạt từ 26-29 cm, số hạt/bông đạt 114-194 hạt.
– Khối lượng 1000 hạt từ 25,9-29,8 gam, dạng hạt tròn, màu vàng sẫm, xôi mềm, ngon, có vị đậm, cơm bóng và có mùi thơm đặc trưng. Hàm lượng amylose 3,54-3,74%, tỷ lệ gạo xát và gạo nguyên khá.
– Giống Nếp 68 có khả năng chống đổ khá, nhiễm vừa bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá và nhiễm rầy nâu.
– Năng suất thực thu trung bình:
+ Vụ xuân: 62,1 – 68,1 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 70 tạ/ha
+ Vụ mùa/Hè Thu: 57,1 – 62,2 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 65 tạ/ha.
Kỹ thuật canh tác
3.1. Thời vụ và phương thức gieo cấy
– Giống lúa Nếp 68 là giống lúa ngắn ngày, chịu thâm canh, chất lượng tốt, phù hợp gieo cấy ở trà Xuân chính vụ và Mùa sớm, Hè thu trên các chân đất vàn, vàn cao tại các tỉnh phía Bắc.
– Thời vụ gieo cấy: căn cứ vào điều kiện thực tiễn và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn tại địa phương để bố trí thời vụ gieo cấy hợp lý.
+ Tại các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc
Vụ Xuân: mạ dược, gieo từ 15-25/01, cấy khi mạ có 5,5-6,0 lá.
Vụ mùa: mạ dược, gieo từ 05-12/06, cấy ở tuổi mạ từ 20-22 ngày
+ Tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
Vụ Xuân: mạ sân, gieo từ 20/1-31/01, cấy khi mạ có 3,5-4,0 lá;
Vụ mùa: mạ sân hoặc mạ khay cấy máy gieo từ 15-21/06, cấy ở tuổi mạ từ 12-16 ngày
+ Tại các tỉnh Bắc Trung bộ
Vụ Xuân: mạ sân, gieo từ từ 5-15/01, cấy khi mạ có 3,5-4,0 lá.
Vụ Hè Thu: mạ sân hoặc mạ khay cấy máy gieo từ 20-27/5, cấy ở tuổi mạ từ 10-15 ngày.
– Kỹ thuật ngâm ủ:
Vụ Xuân, hạt giống cần được xử lý loại bỏ hạt lép lửng, ngâm trong nước sạch, cứ 12 giờ thay nước chua một lần, ngâm trong khoảng 36-48 giờ. Khi hạt no nước đem đãi thật sạch rồi ủ. Vụ Xuân nhiệt độ tương đối thấp nên cần được để ráo nước rồi ủ cẩn thận để giữ nhiệt. Khi trời lạnh cần tạo nhiệt ban đầu bằng cách tưới qua nước ấm trước khi ủ.
Vụ Mùa, nếu sử dụng hạt giống đã để cách vụ thì ngâm trong nước sạch 36-48 giờ, nếu là hạt giống mới cần xử lý phá ngủ, thì ngâm trong thời gian 60-65 giờ. Chú ý trong vụ Mùa thường nhiệt độ cao nên dễ gây chua, do vậy thường xuyên đãi mạ bằng nước sạch (1-2 lần/ngày). Khi mầm hạt đạt độ dài 2-3 mm thì có thể tiến hành gieo mạ.
3.2. Kỹ thuật cấy, bón phân, chăm sóc, thu hoạch
* Lượng giống sử dụng: Lượng hạt giống đối với vụ Xuân là 40 kg/ha; vụ Mùa/Hè Thu là 30-35 kg/ha; Nếp 68 là giống có khả năng đẻ nhánh trung bình, kiểu cây gọn nên cấy ở mật độ từ 30-35 khóm/m2; cấy 2-3 dảnh/khóm. Nên gieo mạ thưa, để mạ đanh dảnh, có ngạnh trê khi nhổ cấy. Tuy vào lượng phân bón và thời vụ điều chỉnh cho phù hợp với từng vùng.
* Phân bón:
+ Tại các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc
Vụ xuân: 1 tấn HCVS + 105 kg N + 105 kg P2O5 + 85 kg K2O, cấy với mật độ 30 khóm/m2 (36 kg HCVS + 8 kg ure + 23 kg supe + 5 kg kaliclorua cho 1 sào Bắc bộ 360m2)
Vụ Mùa: 1 tấn HCVS + 95 kg N + 95 kg P2O5 + 80 kg K2O, cấy với mật độ 35 khóm/m2 (36 kg HCVS + 7 kg ure + 20 kg supe + 4,5 kg kaliclorua cho 1 sào Bắc bộ 360m2)
+ Tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
Vụ Xuân: 1 tấn HCVS + 105 kg N + 105 kg P2O5 + 85 kg K2O, cấy với mật độ 30-35 khóm/m2 (36 kg HCVS + 8 kg ure + 23 kg supe + 5 kg kaliclorua cho 1 sào Bắc bộ 360m2)
Vụ Mùa: 1 tấn HCVS + 95 kg N + 95 kg P2O5 + 80 kg K2O, cấy với mật độ 35 khóm/m2 (36 kg HCVS + 7 kg ure + 20 kg supe + 4,5 kg kaliclorua cho 1 sào Bắc bộ 360m2)
+ Tại các tỉnh Bắc Trung bộ
Vụ xuân: 1 tấn HCVS + 105 kg N + 105 kg P2O5 + 85 kg K2O cấy với mật độ 30 khóm/m2 (36 kg HCVS + 8 kg ure + 23 kg supe + 5 kg kaliclorua cho 1 sào Bắc bộ 360m2)
Vụ Hè Thu: 1 tấn HCVS + 95 kg N + 95 kg P2O5 + 80 kg K2O, cấy với mật độ 30 khóm/m2 (36 kg HCVS + 7 kg ure + 20 kg supe + 4,5 kg kaliclorua cho 1 sào Bắc bộ 360m2)
Cách bón: Nên bón nặng đầu nhẹ cuối, bón thúc sớm cho lúa đẻ nhánh sớm, tập trung, đảm bảo được số dảnh hữu hiệu/m2.
+ Bón lót toàn bộ phân chuồng (hoặc phân hữu cơ vi sinh) + 100% P2O5 + 40%N + 30% K2O
+ Bón thúc lần 1: Sau khi lúa bén rễ hồi xanh 50% N + 40% K2O (sau cấy từ 7-10 ngày)
+ Bón thúc lần 2: Khi lúa đứng cái, bón hết lượng phân còn lại (khi thân hơi tròn, đứng, sau gieo khoảng 90-95 ngày vụ xuân; 70-75 ngày vụ mùa)
Ngoài ra, có thể sử dụng phân bón NPK tổng hợp để bón nhưng phải đảm bảo liều lượng phân N:P:K như trên
* Tưới tiêu: sau khi cấy giữ lớp nước 3-5 cm cho lúa hồi xanh, sau đó thường xuyên giữ nước ở mực nước 2-3 cm. Khi lúa kết thúc đẻ nhánh nên rút nước phơi ruộng trong 5-7 ngày sau đó tưới và giữ đủ nước trong suốt thời kỳ làm đòng, trỗ bông và vào chắc. Trước khi thu hoạch 7-10 ngày rút kiệt nước.
* Phòng trừ sâu bệnh: Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm và phòng trừ kịp thời các đối tượng sâu bệnh hại chính như bệnh đạo ôn, bạc lá, khô vằn, sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy nâu,… theo khuyến cáo của các cơ quan chuyên môn tại địa phương
* Thu hoạch: Khi ruộng lúa chín 85 – 90% tiến hành thu hoạch; không nên phơi thóc lúc nhiệt độ quá cao hạt gạo dễ bị gãy, giảm tỷ lệ gạo nguyên. Cần phơi nắng nhẹ và phơi nhiều lần, thực hiện “phơi-ủ” từ 3-4 lần. Làm như trên sẽ giữ được mùi thơm và tỷ lệ gạo xát cao./.

